HUYEN BI HOC DONG TAY

TRUNG TAM TRI TUE VA TAI LIEU

                    LỤC MẠCH THẦN KIẾM 

     Lục Mạch Thần Kiếm là môn tuyệt kỷ của dòng họ Đoàn , người nước Đại Lý ở Vân Nam ngày xưa ; Lục mạch Thần Kiếm nằm trong bộ bí kiếp THIÊN LONG THẦN CÔNG BÍ ĐIỂN , nó thâu gồm tinh hoa của Phật – Đạo – Vỏ – Y và tất cả tinh hoa tuyệt kỷ trong dân gian thời đó , như Thiên Trúc Thần Công – Nhật Nguyệt Hấp Tinh Đại Pháp – Nhiếp Thần Đại Pháp – Lăng Ba Vi Lộ – Sút Cốt Thần Công – Xích Âm Thần Công – Xích Dương Thần Công ......Đây là một bộ võ lâm bí kiếp vô giá . 
          

            Lục Mạch Thần Kiếm là môn chỉ pháp nội công thượng thừa ; thông qua một quá trình nội tu ngoại luyện đặc biệt , để khai thông sáu luồng kinh mạch trong thân thể , tức thủ thái âm kinh – thủ khuyết âm kinh – thủ thiếu âm kinh – thủ thái dương kinh – thủ thiếu dương kinh – thủ dương minh kinh , để từ đó tu tập tích tụ nội khí , để từ đó hình thành Lục Mạch Thần Kiếm .
Lục Mạch Thần Kiếm gồm có : Tam Âm Kiếm và Tam Dương Kiếm .

           Tam Âm Kiếm thì khí nhu mềm và trầm kết ; Tam Dương Kiếm thì khí dủng mảnh kiên cường .
Lục Mạch Thần Kiếm có thể vận dụng Đơn Kinh Kiếm Khí , căn cứ vào Tí Ngọ Lưu Trú để trị bệnh hay phát kiếm khí tấn công làm thương hại đến tạng phủ của kẻ địch .

Hành giả có thể thông qua lục mạch mà phóng kiếm khí ra ngoài hoặc có thể thu hồi một cách tự tại ; nếu phát ra ngoài , nếu phát lực nhẹ có thể trị bệnh cho người khác , nếu tăng mạnh công lực có thể trở thành một thanh kiếm sắc bén , chỉ cần vẩy ngón tay , có thể đâm thủng cơ thể và làm thương hại nội tạng của kẻ địch ; vì kiếm khí là do thần ý và tâm niệm chủ động , trong quá trình thu phóng đều do ba kinh âm hay ba kinh dương ở tay xử dụng , nên có tên là Lục Mạch Thần Kiếm .

           

              THIÊN LONG THẦN CÔNG BÍ ĐIỂN thâu tóm tinh hoa từ Y Học – Đạo Học – Phật Học – Dịch Học .....Lấy Thần làm Gốc , lấy Khí làm căn cơ , lấy lực bổ trợ , mà hợp luyện Thần và Khí , nội ngoại kiêm tu . trong Dịch Học và Y Học thì thâu nạp lý luận âm dương ngũ hành tương sinh tương khắc ; đồng thời dùng thố nạp vận khí phối hợp với Lục Tự Quyết để trị liệu ngủ tạng lục phủ và làm mạnh nội tạng ; luyện nguyên khí của ngũ tạng .
Về phương diện Vỏ Học , nó lấy hạ đơn điền làm chủ , để luyện dưởng nguyên khí tiên thiên , đồng thời thu nạp chánh khí của thiên địa để bổ xung , nội ngoại kết hợp để để tu luyện và bồi dưởng chân khí .
Về phương diện Đạo Học , nó hấp thu phương pháp đả thông 12 kinh mạch ở châu thiên , kỳ kinh bát mạch và huyệt đạo toàn thân , để khai thông trăm mạch ,hầy cho khí huyết được vận hành thông suốt .
Về phương diện Phật Học thì tinh chọn phương pháp tọa thiền , dùng tâm để tu luyện thông linh bí pháp , để từ đó công lực được tinh thuần .

 

NHIẾP THẦN ĐẠI PHÁP

Nhiếp Thần Đại Pháp được chia ra làm sơ cấp và cao cấp . Sơ cấp chuyên về Trấn Phục ; Cao cấp chuyên về Thu Nhiếp .
Trấn Pháp là dùng Thần để trấn áp kẻ địch , khi nội lực đầy đủ có thể dùng thần khí mà áp đảo kẻ địch , từ mắt của hành giả sẻ phát ra luồng khí quang sắc bén , đi sâu vào đồng tử của người đối diện , làm cho kẻ địch kinh sợ hồn bay phách tán , mà mất đi khả năng chống cự , nếu có tập hành giả có thể phối hợp với linh phù đặc biệt , mà đồng thời phóng ra để trấn áp kẻ địch thì việc chế ngự kẻ địch sẻ càng nhanh và càng có nhiều hiệu nghiệm .
Nhiếp Pháp là dùng công lực thâm hậu của hành giả , để đánh vào trong cơ thể của kẻ địch , đánh bật nguyên thần của họ ra ngoài , hàn giả thu nhiếp nguyên thần của kẻ địch về mà tùy nghi xử dụng như âm binh vậy .

 

BẾ HUYỆT ĐẠI PHÁP

Bế Huyệt Đại Pháp là một phương pháp bảo vệ huyệt đạo của bản thân để không bị sự tấn công của kẻ địch và từ đó có thể dùng huyệt đạo của mình mà tấn công huyệt đạo của kẻ địch .
Đầu tiên là phương pháp đổi huyệt đạo và phong bế huyệt đạo :
Tức là luyện được một cơ thể thuần nguyên Kim Cang Thân Bất Hoại , có thể tùy ý làm di động các bắp thịt một khoảng cách nhất định để che lấp các huyệt đạo hay làm xê dịch các huyệt đạo di chuyển lên xuống , phải trái ; để khi kẻ địch dù có đánh trúng vị trí các nguyên huyệt , mà ta vẩn không bị thương tổn .
               Tiếp đến thông qua việc bế huyệt hay đổi huyệt , để từ đó hành giả dùng ỵ́ vận khí của đan điền tụ lại tại các khí huyệt đả phong bế hay đã dời đổi , nơi đây do sự tụ khí hóa thành những hạt đạn sắt cứng vô cùng , từ đó khi kẻ địch điểm vào sẻ là ngón tay bị gảy hay bị thương tật . Từ đây hành giả có thể luyện đến sút cốt công , như vậy hành giả có thể tùy ý làm chuyển động các bắp thị và xương cốt đến vị trị nhất định nào đó một cách dể dàng ; như vậy công pháp phong bế huyệt đạo càng đạt được hiệu quả cao .

 

 

                        

Tài liệu bên trên chỉ có tính cách nghiên cứu và tham khảo , mọi sự tu tập cần có sự hướng dẩn và chăm sóc của Minh Sư . Tất cả những bất trắc , thiệt hại xảy ra cho thân tâm cá nhân người tập hoàn toàn tự nhận mọi hậu quả do tự mình gây ra .

                                      

                        ÁNH SÁNG – T2 – ÚC CHÂU

                                        Biên soạn  

                             http://www.huyenbihoc.com

                              (  Bài trên được trích lại từ

      SỐNG CHẾT SỰ ĐẠI của ÁNH SÁNG – T2 – ÚC CHÂU ở 

        http://www.vietnetcenter.com/diendan/viewtopic.php?t=257)