HUYEN BI HOC DONG TAY

TRUNG TAM TRI TUE VA TAI LIEU

CAC BAI VIET SAU DAY , DUOC SUU TAM TU CAC NGUON KHAC NHAU , VA DUOC DANG LAI CHO DOC GIA DOC MIEN PHI . NEU CO GI TRO NGAI , XIN LIEN LAC VOI TRUNG TAM , T.T SE XOA BAI VIET , HOAC DIEN TEN TAC GIA VAO . CAM ON THIEN Y CUA TAC GIA .

 Con người có Hồn và Thể.

                   Hồn là điểm thiêng liêng linh diệu trong con người. Nó vốn bất tiêu bất diệt. Ấy là điểm linh quang do Chơn linh của Tạo hóa ban cho.
Chơn linh ấy có ba Ngôi, th́ hồn cũng có ba bực:
1.
Linh Hồn (Âme divine - Atma) cũng gọi Phật hồn, Chơn hồn, Chơn ngă, Chơn tâm, Ngươn thần.
2.
Anh hồn (Âme spirituelle - Boddhi) cũng gọi Tiên hồn, Bồ đề, Bát nhă, Trí huệ.
3.
Nhơn hồn (Âme humaine - Coprs mental supérieur) cũng gọi Giác hồn, Thần thức, A lại Da thức, Thượng trí thức, Tâm thức, Nghiệp thức.
Nhơn hồn đồng nguyên chất với cơi Tiên.
Anh hồn đồng nguyên chất với cơi Thiên Tiên, cũng gọi cơi Bồ đề (Monde spirituel ou Boddhique).
Linh hồn đồng nguyên chất với cơi Ngọc Tiên Thiên, cũng gọi là cơi Niết bàn (Nirvana).
Thể th́ có bốn thứ là:
Vật thể, Khí thể, Thần thể, Thánh thể.
Vật thể (Corps physique: Rupa) là xác thịt, thể thứ nhứt của con người. Nó do bốn nguyên tố lớn hiệp thành (Tứ đại giả hiệp). Bốn cái nguyên tố ấy là: đất, nước, lửa, gió (*1).
Vật thể bị bao bọc bởi một lớp tinh khí (éther), gọi là
Khí thể (Double éthérique: linga-sharira), cũng gọi là cái Phách, kêu nôm là cái Vía, thuật âm phù gọi Tướng tinh.
Khí thể dùng rút sanh lực vào
Vật thể đặng giữ cho Vật thể được sanh tồn. Nhờ có Khí thể chở che bao học, Vật thể mới không tan ră.
Khí thể dính với Vật thể bởi một sợi từ khí (lienmagnétique). Khi nào Khí thể bứt sợi dây ấy mà ĺa khỏi Vật thể, th́ con người phải chết. Lúc bấy giờ, Vật thể mất sự che chở của Khí thể, nên lần lần tiêu ră.
Nhà âm phù thuật sĩ dùng phép thôi miên có thể làm cho Khí thể của người sống xuất khỏi Vật thể trong một lúc (nhưng không cho dang ra xa, sợ đứt sợi từ khí mà nguy cho tánh mạng).
H́nh nó xuất ra mờ mờ như đám sương mù, người có thần (voyant), trông thấy được.
Lúc bấy giờ, xác phàm hết cử động, hết biết cảm giác, trơ trơ như một tử thi.
Người hít thuốc mê không c̣n biết đau đớn là v́ thuốc mê đă làm cho một Khí thể ra khỏi xác thịt.
Thể thứ ba là
Thần thể hay Chơn thần (Corps astal: Kama). Dính với Khí thể bởi một sợi từ khí, Chơn thần làm trung gian cho Vật thể và Hồn.
Chơn thần là tạng chứa dục vọng và t́nh cảm tức là nguồn gốc sự cảm giác. Hể nó vọng động, th́ mắt tham sắc, tai tham thanh, mũi tham hương, lưỡi tham vị và thân tham xúc. Nó là vai chủ động của lục căn.
Tâm lư học gọi là ư thức.
Người ta có thể luyện phép xuất Thần ra khỏi xác mà vân du trên cơi Thần (Trung giới) là cơi thích hạp với Chơn thần v́ đồng một nguyên chất.
Chơn thần của các vị tu đắc đạo vốn huyền diệu vô cùng tuy c̣n ở xác phàm mà tự do xuất nhập, trong nháy mắt dạo khắp ba ngàn thế giới, tiếp xúc với Thần Tiên.
Người đồng tử (médium) nhờ xuất được Chơn thần ra khỏi Phách mà thông công với các Đấng Thiêng Liêng.
Thể thứ tư là
Thánh thể (Corps mental inférieur: manas inférieur). Phật giáo gọi Mat nạ thức hay Truyền thống thức; Tâm lư học gọi Trí thức.
Nó giao thông giữa Thần và Hồn. Hễ Chơn thần phân biệt cái ǵ là tốt, cái ǵ là xấu, hoặc điều ǵ là thiện, hoặc điều ǵ là ác nó cũng tùy theo mà phân biệt như vậy, rồi truyền sang cho Nhơn hồn hay biết.
Tóm lại, con người có bốn thể là: Vật thể, Khí thể, Thần thể, Thánh thể.
Và ba hồn là: Nhơn hồn, Anh hồn và Linh hồn.
Khi con người chết, bốn thể lần lần tiêu tan, duy có hồn là bất tiêu bất diệt, đi đầu thai kiếp nầy sang kiếp khác, cho tới khi được hoàn toàn giải thoát (đắc đạo).

(*1) Xương thịt thuộc đất, v́ tánh nó đặc và chắc.
Huyết dịch thuộc nước, v́ là chất lỏng.
Ôn độ trong châu thân thuộc lửa, v́ tánh nó ấm.
Khí chất trong châu thân thuộc gió, v́ tánh nó động.
Khi con người chết, bốn cái nguyên tố trong châu thân lần lần tan ră, rồi hiệp thành một vật thể khác, để rồi tan nữa rồi hiệp nữa, thoạt có, thoạt không, thoạt c̣n, thoạt mất, thiệt rơ ràng một giả tướng.

NHƠN HỒN SAU KHI GIẢI THỂ
Người ta chết là khi sợi từ khí cột dính Vật thể và Khí thể bị bứt đi (*1), thế là Khí phách và Thần hồn ĺa xác thịt.
Thiệt ra, cái chết chỉ là sự ly dị giữa Vật thể và Khí thể. Khí thể vốn là tạng chứa sanh lực, mà nếu nó ĺa khỏi Vật thể th́ Vật thể hết sanh lực, phải lần lần tan ră.
Vài ngày sau khi con người chết, Khí thể của người ấy ĺa khỏi Chơn thần. Nó không cử động mà cứ vơ vẩn gần tử thi. Ban đêm, đi đến nơi thanh vắng, nhứt là nơi mồ mả, những người tánh nhát hay sợ sệt; sự sợ sệt ấy khích thích thần kinh hệ (système nerveux) làm cho họ thấy được h́nh dạng Khí thể vẩn vơ nơi đó. Họ cho là "gặp ma" (fantôme éthèrique).
Khí thể của người chết tiêu tan một lượt với tử thi. Tần nhơn (người Cao miên) có tục hỏa táng (Crémation), nghĩa là thiêu tử thi, rồi chôn tro, hoặc đựng trong hủ đem thờ nơi chùa. Dùng hỏa táng, th́ Khí thể tiêu liền theo xác thiêu.
Khi Hồn người chết cổi hết Vật thể và Khí thể, nó được nhẹ nhàng thong thả như trút được một gánh nặng. Lúc bấy giờ, nó lại linh hoạt hơn khi c̣n tù túng trong xác phàm. Nó vẫn sống như thường ở cơi vô h́nh; cái sống nầy mới là sống thiệt, có điều Nhơn hồn không cảm xúc theo phàm trần v́ nó không c̣n Vật thể.
Lúc nầy Nhơn hồn linh hoạt nhờ Chơn thần là cái vỏ bao bọc nó như Khí thể bao bọc xác thịt vậy. Chơn thần vốn đồng nguyên chất với Trung giới là cơi Thần (Monde astral).
Cho nên, sau khi rời bỏ xác phàm và cái phách (Vật thể và Khí thể), Hồn nhờ Chơn Thần làm chiếc xe đưa vào cơi Thần là nguyên quán, là quê hương của Chơn thần vậy.
Vẫn biết Chơn thần là tạng chứa những hột giống thuộc về dục vọng và t́nh cảm.
Con người, nếu lúc sanh tiền đă chú trọng vật chất, chỉ lo thỏa măn dục vọng, tất nhiên Chơn thần bị trọng trược bởi những hột giống xấu xa ấy, nên nó lâu tan ră. Chơn thần ấy chẳng khác nào cái khám có bốn vách kiên cố để nhốt Hồn người trong một thời gian rất lâu ở Trung giới.
Vậy nên chú trọng điều nầy: ở cơi phàm, con người hành động thể nào, sự hành động ấy, dầu lành dầu dữ, dầu thấp hèn hay cao thượng, cái ấn tượng của các hành vi ấy đều in gắn vào tinh chất (matière astrale) của cơi Thần.
Đến khi Hồn trở về cơi Thần, th́ cái ấn tượng ấy hiện ra có thứ lớp rơ ràng; Hồn người trông thấy chẳng khác nào mục kích một phim chớp bóng (*2).
Lúc bấy giờ, Hồn người được sung sướng mà nhận thấy hành vi nhơn thiện và cao thượng của ḿnh khi c̣n ở thế, hoặc ăn năn và đau khổ mà xem lại những điều độc ác thấp hèn của ḿnh đă tạo.
Sự sung sướng và sự đau khổ ấy, tức là phần thưởng phạt thiêng liêng cho hồn người tại Trung giới, tức là miền Âm cảnh mà người ta quen gọi là Địa ngục (Enfer), tiếng Phạn là Kama Loca.
Hồn những người tu mà giữ tṛn nhơn đạo và chuyên việc nhơn đức và hồn của chiến sĩ đă liều ḿnh v́ nước, khi về đến cơi Thần đều được hưởng các điều khoái lạc thiêng liêng là phần thưởng cho sự hành vi của ḿnh khi c̣n ở thế.
Đó là đắc Thần vị (thành Thần).
Ở cơi Thần, những Hồn đồng một tŕnh độ tấn hóa với nhau đều liên hiệp từng đoàn thể để giúp đỡ nhau đặng tấn hóa thêm lên.
Hưởng và chịu thưởng phạt thiêng liêng ở cơi Thần trong một thời gian lâu hay mau tùy theo căn nghiệp của ḿnh. Nhơn hồn giải thoát được Chơn thần v́ Chơn thần đến ngày tiêu tán. Chơn thần tiêu tán, th́ bao nhiêu hột giống của nó tàng trữ bấy lâu, tức là những hột giống luân hồi (atomes permanents)
đều rút vào cái thể thứ tư là Thánh thể, để làm nghiệp duyên cho kiếp tái sanh.
Chỉ c̣n cái Thánh thể bao bọc, Nhơn hồn bỏ cơi Thần mà vào từng cao nhứt của Trung giới, tức vào cơi Thánh (Monde mental inférieur). Nhơn hồn ở cơi nầy lâu hay mau cũng tùy theo kiếp sống của ḿnh tại thế. Như lúc sanh tiền con người đă hành động cao thượng về tinh thần trí thức, nếu con người đă có những tư tưởng thanh cao và những t́nh cảm cao siêu của phàm tánh, nếu con người đă biết quên ḿnh để phụng sự một lư tưởng cao cả, hoặc một chủ nghĩa vị tha, th́ Nhơn hồn được hưởng bền lâu những khoái lạc, những hạnh phước thiêng liêng nơi cơi Thánh tốt tươi vui vẻ, và được tiếp xúc với các v́ minh Thánh nơi đây.
Đó là đắc Thánh vị (thành Thánh).
Nên biết rằng ở cơi Thánh, chẳng một việc ǵ là phát đoan (khởi đầu). Những công việc ở đây toàn là kiếp tục. Nói một cách dễ hiểu là: một hạnh phước không thể bắt đầu tạo ra ở cơi nầy. Nó phải phát đoan từ cơi Phàm, rồi đến đây mới tiếp tục mà phát triển thêm.
Cho nên con người khi c̣n ở thế, cần phải sống một cuộc đời nhơn thiện và thanh cao về tinh thần trí thức và lư tưởng, chớ không phải đợi lên đến cơi thiêng liêng mới lo hành thiện, th́ muộn lắm rồi. Luật nhơn quả (Loi de Karma) vốn chí công: nhơn nào, quả nấy.
Khi c̣n ở thế, chúng ta tự tạo phẩm vị thiêng liêng của chúng ta là cái kết quả của những hành vi thuận hay nghịch với Thiên đạo (Loi divine).
Khi c̣n ở thế, chúng ta vẫn có quyền tự do định đoạt cho ḿnh. Chớ nên quá hẫng hờ tự tạo lấy xiềng xích đặng sau rồi buộc trói lấy ta.
Khi Thánh thể tiêu tan, những hột giống luân hồi tàng trữ bấy lâu trong đó rút vào Nhơn hồn (Thần thức) để làm nghiệp nhơn cho kiếp tái sanh như đă nói trước kia.
Nhơn hồn lúc bấy giờ hết bị thể phách ràng buộc, nó được thong thả trở về bổn nguyên là Tiên cảnh (Monde mental supérieur), nơi mà Thiên Chúa giáo gọi là Thiên đàng (Paradis), tiếng Phạn là "Devakan".
Điều cần yếu nên biết là tất cả Nhơn hồn sau khi rời bỏ bốn thể, đều trở về cơi Tiên trong một thời gian lâu hay mau tùy theo duyên nghiệp của ḿnh, nhưng đó chưa phải là đắc quả Tiên.
Đắc quả là những Nhơn hồn lúc ở thế biết tu hành theo chánh pháp mà được sáng suốt. Cho nên khi về cơi Tiên, th́ có linh cảm hiểu biết và hưởng được những điều khoái lạc thiêng liêng và những thanh phước của Tiên cảnh (*3) u nhàn xinh đẹp.
Nhơn hồn của những bực chơn tu đắc Tiên vị, khi ĺa cơi phàm, th́ cổi luôn tất cả bốn thể một lượt; vượt khỏi cơi Thần và cơi Thánh mà lên thẳng cơi Tiên. Nhưng sau khi hưởng hết quả vị, nói một cách khác, sau khi măn hạn (*4),
Nhơn hồn c̣n phải luân hồi lại nữa.
Đến như Nhơn hồn, khi c̣n ở thế không biết tu hành, th́ lúc trở về Tiên cảnh, vẫn mờ mờ mịt mịt, không hiểu biết chi hết. Tại cơi thiêng liêng nầy, những Nhơn hồn ấy ở vào trạng thái vô vi vô giác (état inconscient). Có lẽ độc giả lấy làm lạ, sao lại Trung giới, Nhơn hồn ở vào trạng thái hữu giác (état conscient), mà khi đến Thượng giới nó lại vô tri vô giác.
Điều đó cũng không khó hiểu. Lẽ thường, hai cái thái cực vốn bằng nhau, nhứt là hai cái thái cực về quang độ (degré de lumière). Nếu ánh sáng lu lờ, người ta chỉ thấy mờ mịt, như ở vào cơi u minh. Nếu ánh sáng có cái quang độ trung b́nh, người ta được thấy tỏ rơ, như ở vào cơi Thần, cơi Thánh.
Đến như quang độ lên đến cực điểm, th́ ánh sáng chói ḷa, người ta bị chóa mắt như bị "nắng quáng đèn ḷa" mà không thấy chi hết, hoặc không thấy chi đặng rơ.
Ấy vậy, Nhơn hồn mê muội không tu ở vào cơi Tiên là cơi sáng ḷa, th́ chỉ mờ mờ mịt mịt trong trạng thái vô vi vô giác đó thôi.
--------------------
(*1)Có khi sợi từ khí khó bứt làm cho kẻ hấp hối phải nhiều đau đớn. Cho nên tôn giáo dùng kinh "độ hồn" đọc trong khi người bịnh sấp tắt hơi, là để giúp cho sợi từ khí nhờ sức rung động của những tiếng mầu nhiệm trong câu kinh mà được bứt ra dễ dàng.
Người tu hành đầy đủ đạo đức th́ Khí thể của họ nhẹ nhàng trong sạch, sợi từ khí ấy lại được tinh vi, nên khi thoát xác phàm, sợi từ khí bứt ra rất dễ, nên liểu trần một cách êm ái.
(*2) Đó là "Nghiệt cảnh đài" (Psyché astrale) của nhà Phật.
(*3) Điều nầy sẽ giải trong bài luận "Chơn Ngă".
(*4) Nhơn hồn đắc Tiên vị hưởng quả mấy ngàn năm, hoặc mấy muôn năm, rồi phải luân hồi nữa, cho đến khi đắc Phật vị mới hoàn toàn giải thoát.

               Sưu tầm trong quyễn Thiên Đạo tác giả Nguyễn Trung Hậu

 

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

   Bùa Lào

 

 

                      Chưa một chính thể nào hợp pháp hóa Khoóng-đ́ (bùa ngải) và khoóng-hặc-sá (vật pḥng thân), nhưng không v́ thế mà hai môn nầy bị giảm giá trị đối với dân Lào - tất cả, bất luận bộ tộc và giai tầng xă hộị Hầu như không người Lào nào không giữ một vài món bửu bối pḥng thân tục gọi Khoóng-hặc-sá cũng như không ai ở Lào mà không từng nghe nói tới Khoóng-đ́, c̣n được gọi là Vicha Akhom (vi-sa a-khôm).

Khoóng-hặc-sá là ǵ ?

- Khoóng-hặc-sá hay Vật Pḥng Thân là tên gọi chung cho các lọai Kà-thá (bửu bối) do các sư Lào làm ra với mục đích duy nhất và đầy thiện ư là giúp các tín hữu trong việc pḥng thân, tự vệ ; ḥan ṭan không thể dùng Khoóng-hặc-sá để tấn công hay làm hại người khác.

Kà-thá có nhiều h́nh dạng khác nhau:

Ạ Một miếng vải màu vàng nghệ có ghi vài bí ngữ và ẩn số hay vẽ h́nh kỷ hà khó hiểụ

B. Một miếng đồng vuông vắn độ 5 x 5 phân tây có khắc vài bí ngữ và ẩn số được cuốn tṛn lại, dùng một sợi dây xuyên qua để đeo ở cổ.

C. Một tượng Phật bằng đá đen, rồi tùy ḥan cảnh tài chánh của mỗi tín hữu, tượng Phật có thể được viền hay mạ bằng vàng ỵ

D. Mạc Phảo Tà Điều (miếng vỏ dừa một mắt).

Ẹ Khẹo Mú Tành (nanh heo rừng), Kháu Quang Hốt (một khúc sừng nai) hay Phrả Khăm Tằn (tượng Phật đúc bằng vàng ta nguyên khối).

Dạng A, B và C thường đă được các sư hệ tiểu thừa sụt môn (làm phép) sẵn, tín hữu chỉ việc vô chùa thỉnh. Dạng D và E tín hữu phải mang đền chùa nhờ sư làm lễ sụt đặc biệt.

Hai loại Kà-thá phổ cập nhất mà người Lào nào cũng có đeo trên người, đó là Ka-thá kằn phí hải (bửu bối ngừa ma dữ, đặc biệt ma Kong-koi, sẽ nói sau), và Kà-thá khắt lượt (bửu bối cầm máu) những vết thương nhỏ ngoài dạ

Điều kiện giữ ǵn loại Kà-thá này là phải kh'lăm (kiêng cử) không được chui ḷn qua dây hay hàng rào có phơi quần áo ; nếu là đàn ông, trước khi gần đàn bà phải cởi ra đặt lên chỗ cao ; lỡ vô ư phạm giới, Kà-thá chỉ mất hiệu lực chứ không gây '' tẩu hoả nhập ma '' như các Khoóng-đ́ hay vi-sa a-khôm dưới đâỵ

Khoóng-đ́ là ǵ ?

- Khoóng-đ́ theo nghĩa đen là Đồ Tốt nhưng theo nghĩa bóng và cứu cánh của nó th́ không thể hiểu theo nghĩa chính của từ Hán-Việt '' bửu bối '' mà phải tạm dùng từ '' bùa ngải '' v́ mục đích của Khoóng-đ́ chủ yếu là để tấn công, gây hại ; hoạ hoằn mới để pḥng thân. Các sư b́nh thường không bao giờ làm ra Khoóng-đ́. Tác giả của Khoóng-đ́ thường là các Mó-phí (thầy trị tà ma, pháp sư, phù thủy), v́ như từ điển Lào đă định nghĩa, Mó-phí là người trừ phí (ma quỉ) (1), người nuôi phí (liểng phí). Nói rơ là bất cứ Mó-phí nào cũng phải nuôi ít nhất một con Phí. Đó là điều hiển nhiên. Nếu không, Mó-phí chỉ c̣n là Mó, mà Mó b́nh thường ( chảng hạn Mó dà = thầy lang) th́ làm sao trừ được phí ? Tóm lại, khi một Mó-phí đuổi được con phí X ra khỏi thân thể của một thân chủ, chúng ta phải hiểu là chính con Phí CỦA - chứ không phải trong - Mó-phí đă thắng con Phí X trong người nạn nhân.

Khoóng-đ́ th́ trăm h́nh ngh́n thứ, sự ṭ ṃ của tôi chỉ giới hạn ở một vài loại qua các '' vũ khí '' đă từng được chứng kiến hay nghe nói tới như Sái Nắng (da trâu, da ḅ), Lệp Mă (móng ngựa) ... và Lục Loọt (thai nhi).

* Sái Nắng (miếng da trâu hay da ḅ) là vũ khí mà Khôn Thứ Khoóng-đ́ ( người giữ bùa hay ngải) dùng để ám hại kẻ thù bằng cách '' thư '' vào bụng đối tượng. Gặp nước trong bụng, miếng da trâu hay da ḅ sẽ càng ngày chương śnh lên và nếu không kíp mời Mó-phí cao tay ấn đến lấy ra, nạn nhân sẽ đau bụng đến chết.

* Lệp Mă là một miếng móng ngựa được mài nhỏ lại mà người giữ món ngải tên Vạn Mă (ngải ngựa) cất hay đeo trong ngườị Nghe nói công dụng của Vạn Mă là để tự vệ, pḥng thân nhưng theo chỗ tôi biết th́ có thêm phần tấn công nữạ Soạn giả có người bạn tên T., bà con đồn chàng có Vạn Mă : T. đang tản bộ giữa đường mà có người đi đến gần sau lưng và làm chàng giật ḿnh th́ tức khắc và tự động một trong hai chân của T. sẽ đá ra sau gần gần như ... ngựa ! Dĩ nhiên là bạn tôi chỉ đá một chân thôi, chứ nó mà đá cùng lúc hai chân y chang ngựa th́, trước khi chân nó đụng tới lông chân '' kẻ thù '', bản thân nó đă không dập mặt th́ cũng ' ăn trầu '. Thứ vạn nầy thật đúng sách binh pháp Tôn Ngô : Tiên hạ thủ vi cường ( tấn công trước là phương thức tự vệ hữu hiệu nhất) ! Giáng sinh 1995, nhân dịp về Lào lần thứ 2, luôn tiện đón Mẹ già qua Pháp thăm gia đ́nh các anh chị và cháu chắt nội ngoại, tôi có gặp lại bạn T. nhiều lần bên bàn rượu tại Savannakhet. Bạn bè kể cho nghe lắm chuyện ly kỳ sóng gió về cuộc đời của T. sau cuộc đổi đời tại Lào 02/12/1975, trong đó có chuyện T. bị kẻ thù bỏ vô bao bố c̣n dằn thêm mấy khối đá, cột lại và vất xuống sông, thế mà hắn thoát được. Đặc biệt, chính bạn T. thuật lại cho soạn giả trường hợp hắn đă bị người Khạ trong vùng Parsoong - Attapư, Nam Lào, '' thư ngải '' ra sao ; sau hắn đă được cha nuôi của hắn, cũng là người Khạ, giải cứu như thế nào, nghe ra rùng rợn hơn cả tiểu thuyết kinh dị đường rừng của Lan Khaị

* Môn Khôông là phép gồng với công dụng gậy đập không đau, dao đâm không vào, đạn bắn không thủng. Muốn luyện Môn Khôông, trước tiên môn sinh phải thuộc hạng liều mạng, ĺ đặc để có thể kinh qua nhiều thử thách gian nan, đôi khi nguy hiểm đến tánh mạng, hơn nữa phải đặt niềm tin tuyệt đối vào A-chan (sư phụ) trong suốt học tŕnh và giữ nhiều kh'lăm sau khi thành tàị Quyết định luyện Môn Khôông là quyết định của quyết tử quân : Bất thành bất phục hồi, nếu không, môn sinh phải chịu phản ứng ngược, nhẹ th́ đâm ra u u mê mê, nặng th́ trở thành Phí-pọp (ma lai) !

C̣n một loại ngải gồng có tên là Sa Bou Lượt (xà pḥng máu) tức loại ngải dùng máu người đánh thành bánh, thành miếng như miếng xà pḥng. Khi hữu sự, chẳng hạn ở chiến trường, người giữ Sa Bou Lượt chỉ việc bẻ một miếng nhỏ, nuốt vô bụng th́ sẽ không c̣n sợ bom đạn nữa !

Có một giai thoại về Môn Khôông kể rằng:

'' Một người Lào tên Khăm kết bạn tâm giao với một người Việt tên Đức. Ngày nọ, Khăm đang ngồi mài và lau chùi con dao săn cưng quí của anh th́ Đức tới chơi, ngồi xuống bên cạnh coi bạn làm việc. Vốn tính tinh nghịch, Khăm đưa dao lên chỉa thẳng vào người Đức. Đức hoảng hồn đưa hai tay lên trời, kêu lên:

- Không ! Không ! Không !

Khăm lại hiểu thành '' Khôông ! Khôông ! Khôông ! '', mật chú để tác động phép gồng, nên chắc mẩm ông bạn hiền muốn thử, không nói không rằng Khăm lụi nhẹ con dao quí vào ngực Đức, chẳng may con dao bén quá, lọt lút cán ! Đức chết ngay tại chỗ. Khăm rú lên khóc, lẩm bẩm:

- Rơ ràng nó nói: Khôông, khôông, khôông kia mà ! ''

* Phít Sa Lịc (bùa tránh đạn) là loại bùa được các tướng lănh Lào ngoài trận mạc sử dụng nhiềụ Phít Sa Lịc có thật sự có hiệu nghiệm hay không, thú thật người viết chỉ được nghe nói tới nhiều chứ chưa từng chứng kiến. Dư luận đồn vài tướng tá người Lào có giữ Phít Sa Lịc như quí ông Nouane D., Luoane D., Kong L. ...

* Môn Hái Tùa (bùa tàng h́nh) c̣n có tên là Lục Loọt, người Việt gọi là Thiên Linh Cáị Đây là loại bùa mà sự tạo tác đ̣i hỏi nhiều quyết tâm và dă tánh đến mức phi nhân. Lục Loọt có nghĩa là thai nhị Khi người vợ đang có mang một hai tháng, người chồng có chủ ư muốn luyện Lục Lọot sẽ xin vợ đứa con c̣n là thai nhi trong bụng vợ. Nếu người vợ đồng ư hoặc vô t́nh đồng ư, ông ta sẽ dùng mọi cách để lấy thai nhi ra, đôi khi phải hy sinh cả mạng vợ, trường hợp nầy theo truyền thuyết thai nhi phải được lấy ra trước khi người mẹ tắt thở.

Được thai nhi rồi người cha đem hơ nó trên lửa cho khô và teo lại đủ để bỏ vào trong một cái lọt (ống) và đeo vào người, khi hữu sự thai nhi sẽ bảo vệ cha bằng cách làm cho cha tàng h́nh được !

Dĩ nhiên khi dùng con ruột của ḿnh để làm bùa tàng h́nh người cha phải giữ nhiều giới cấm, chẳng hạn trong mọi trường hợp không được cưới vợ khác và vĩnh viễn ưu tiên thương quí, cưng chiều thai nhi nhất trong gia đ́nh, v́ hồn thai nhi luôn luôn ở bên cạnh chạ

Ở Lào hẳn ai cũng từng nghe qua giai thoại về ông hoàng Boun Oum Nachampassak, vua vương triều Champassak, Nam Lào, trước 02/12/1975. Giai thoại kể rằng, dưới thời Pháp thuộc, ông Boun Oum liên minh với Pháp chống Phát Xít Nhật và trong một cuộc bố ráp, hiến binh Nhật bao vây và muốn bắt sống ông Boun Oum, thế nhưng bỗng dưng ông biến mất, an toàn trở về bản doanh kháng chiến. Người ta bảo ông Boun Oum có bùa Lục Loọt.

* Môn Suột Nảm là bùa lặn dưới nước mà không cần thở. Có hai giai thoại về loại bùa ầy:

1. Ông Conti là một thú y người Pháp, thời thực dân ông có mở pḥng thí nghiệm chế thuốc trị bệnh dịch tả ḅ tại bản Chinamô, cách thủ đô Vientiane độ 6 cây số miệt thượng lưu sông Cửu Long. Một sáng nọ, ông Conti đă lặn từ bản Kao Liểu, cách Vientiane 9 cây số hướng hạ lưu sông Cửu Long, và chỉ trồi lên khi đến Chinamô !

2. Ông hoàng Phetsarath là anh cùng cha khác mẹ của hai hoàng thân nổi tiếng trên thế giới một thời là ông Souvanna Phouma, cựu thủ tướng Vương Quốc Lào trước 02/12/1975 và ông Souphanouvong, cựu chủ tịch nhà nước CHDCND Lào sau 02/12/1975. Thời làm phó vương triều Vientiane, dinh thự của ông hoàng Phetsarath tọa lạc ven sông Cửu Long. Mỗi sáng tinh sương ông có thú ra tắm sông, dưới sự bảo vệ của đội hộ vệ. Sáng nào ông muốn hoàn toàn tự do, ông lặn hàng nửa ngày dưới nước mà không cần trồi lên lầy hơị Có lẽ đă quen gặp trường hợp nầy và hơn nữa hẳn đă được dặn trước nên đội hộ vệ cứ '' xừ xừ '' (thản nhiên) ngồi ... đánh bài chờ !

* Đă đọc truyện Thủy Hử của Thi Nại Am hẳn bạn chưa quên Thiên Hành Thái Bảo Đái Tôn, nhân vật có tài đi một ngày ngàn dặm nhờ vào đôi giáp mă đeo hai bên đùi và mấy câu thần chú ? Nhớ hay quên, tích nầy cũng đă trải qua hơn ngàn năm, từ thời Nam Tống bên Tàụ

Bên Lào có giai thoại '' thiên hành '' tương tự nhưng cận đại và nhân vật chính bằng xương bằng thịt là đại sư Lắc Khăm. Giai thoại kể:

Bấy giờ thế giới chưa có máy bay phản lực và Lào chưa có phi trường. Một sáng nọ, lúc bảy giờ, từ Vientiane đại sư Lắc Khăm đi dự một buổi Bin-tha-bạt (khất thực) tận Bangkok rồi quay trở lại Vientiane để kịp dự một buổi Chẹc-hán (bữa cơm sáng giữa các chư tăng) vào lúc chín (9) giờ sáng cùng hôm đó. Vị chi đại sư đă khứ-hồi trên 1.300 cây số trong 2 giờ đồng hồ. Đại sư chạy hay bay ? Bí mật quốc gia !

 

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

                           

   T́m Hiểu Về Ngải

                      Thường thường chúng ta hay nghe nói bùa ngải... 2 tiếng hay gọi chung, về bùa chú th́ ít nhiều người ta có khái niệm về tiếng đó hơn, c̣n ngải th́ có nghe nhưng nhiều người không rơ lắm nó là ǵ ? Xuất xứ từ đâu, linh nghiệm ở chỗ nào v.v... Nay tại hạ không ngại hiểu biết giới hạn, vài ḍng trao đổi với quư vị, mong các cao nhân ngải nghệ vô t́nh có để mắt đến đây vui ḷng bổ sung cho đề mục thêm phong phú...!

Ngải là 1 loại thực vật ngoại biến càn khôn, thường mọc trong những vùng rừng núi, nhiệt đới như Thất Sơn, Trường Sơn Việt Nam, Lai Châu, Vân Nam Trung Quốc hay Tà Lơn, Lục Sơn bên Cao Miên.Ngải có rất nhiều loại, tính tất cả vừa nguyên thủy vừa lai giống có thể đến gần 800 loại, có 1 số đă có tên khoa học và đă được công nhận tính năng chữa bệnh hay giúp ích cho cơ thể con người bởi các nhà nghiên cứu khoa học, nhưng đa phần vẫn c̣n trong bí ẩn mà tên gọi chỉ được truyền miệng qua kinh nghiệm dân gian hay các ngải sư với nhau.

Ngải là loài thực vật có củ, nhỏ nhất th́ nhỏ hơn củ nghệ 1 chút (như ngải đen, ngải nàng thâm, nàng xoài) lớn th́ có thể bằng bắp vế người đàn ông lực lưỡng (như ngải mănh hổ, cuồng phong, ngải tượng v.v...) Ngải có tánh linh tự nhiên kỳ diệu, ví dụ như 1 củ ngải khô đă vài năm để trong nhà không chạm đất, nhưng khi để vô chậu kêu 1 câu chú mời thần ngải về chứng th́ 1 vài tuần nó sẽ tự động mọc mầm sống lại, lên cây trổ hoa như thường, hoặc có những người làm ăn, buôn bán vô t́nh trồng 1 vài chậu ngải bún (c̣n gọi là ngải hẹ) ở trước nhà mục đích chỉ để làm kiểng, nhưng tự nhiên từ đó đông khách đắt hàng, ăn nên làm ra mà nhơn chủ đâu biết là ḿnh đă trồng loại ngải quyến khách cầu tài như vậy, loại này tên khoa học là auttum crosscus có bán ở các chợ ươm cây, trồng cây kiểng trên xứ Mỹ, tuy nhiên cùng 1 loại mà có phân màu sắc khi trổ hoa, cũng do màu hoa mà biết được ít nhiều về sự linh ứng của từng loại theo kinh nghiệm các thầy ngải. Loại trổ bông màu trắng là mạnh nhất, loại bông màu đỏ đứng hàng thứ 2, loại màu vàng vào hàng 3 và sau cùng là loại có bông màu xanh tím nhạt (thứ này thấy thường ở Mỹ), tại hạ có 1 người bạn chuyên môn về những loại này xưa ở đường NGUYỂN TRƯỜNG TỘ chuyên giúp thân chủ cầu tài, khá giả chẳng hạn như nhà sách HỒNG DÂN cũ, thẩm mỹ viện THẠCH THẢO cùng nhiều người trong giới kinh doanh trước 75...

Ngải so với bùa th́ mạnh bạo, nhạy bén hơn nhưng về độ bền th́ không như bùa, những chuyện ǵ cần giải quyết cấp tốc, hiển hiện trước mắt tạo tín tâm cho thân chủ nể phục th́ các thầy hay dùng ngải ! Nói như vậy không có nghĩa là ngải mạnh hơn bùa, v́ nếu người không học bùa th́ không thể luyện ngải được. Bởi v́ cần có bùa chú để triệu ngải về, mời ngải ăn (cúng ngải) tom ngải lại không cho đi bậy và người khác không phá được, sai khiến ngải nhứt nhứt đều phải qua phù chú của chư vị tổ sư...!

Các pháp sư luyện ngải qua 2 cách sau đây:


Ngải chậu và ngải khô:

1) Ngải chậu là cây ngải tươi hay bụi ngải tươi được bứng từ rừng về hoặc được gây giống ra mà trồng ở trong chậu để luyện.

2) Ngải khô là củ ngải đă đào lên từ bụi ngải trong rừng, trên núi hay trong chậu trồng của thầy mà đem phơi sương, nắng cho thọ khí âm dương sau 3 ngày th́ đem vô nhà cúng và luyện.

Luyện ngải chậu cách hay nhất là kiếm 7 cái đầu ông táo (miếng trên của cái ḷ đất) bỏ hoang nơi chùa, miểu, đ́nh thần v.v... đem về bầm nhuyễn trộn với đất thiên nhiên, tuyệt đối không dùng phân (bất cứ phân ǵ) sau đó lấy 1 miếng ch́ vẽ khắc chữ bùa tom (cột) để dưới đít chậu, lấy 1 cái hột gà sống dùng mực đỏ vẽ thêm chữ bùa chủ dụng mà ḿnh muốn luyện cho chậu ngải đó, ví dụ như : ngải thương, ngải ăn nói ngoại giao, ngải cầu tài, ngải quan tư tất thắng (ra toà thưa kiện) v.v...

Lễ vật để cúng khởi đầu cuộc luyện rất đơn giản chỉ gồm: 3 cái hột gà sống, 1 dĩa gạo muối, 1 ly nước lạnh, 3 chung rượu trắng, 1 dĩa nổ (nếp rang hay bắp rang bong vỏ) đốt 2 cây đèn cầy bên cạnh, c̣n lại 3 cây nhang đốt th́ cắm vô chậu ngải, khởi sự luyện luôn luôn vào lúc chiều chạng vạng (lối giờ dậu) đầu tiên pháp sư niệm chú hội ngải 3 lần, chú thỉnh 36 mẹ tổ ngải 3 lần rồi chú nguyện, van vái tên họ tuổi của ḿnh (ngựi luyện) ngày, giờ, năm, tháng này v.v....tôi muốn luyện chậu này gồm loại ngải ǵ... nói ra (có thể luyện 2, 3 thứ chung 1 chậu cũng được) sau khi tác bạch xong th́ định thần, bắt ấn niệm chú sên (đọc thổi) vô chậu ngải, thông thường luyện khoảng 15 phút là được, với cây ngải đă cao lối 2 tấc th́ tinh luyện khoảng 21 ngày liên tục th́ ngải đă biết chào thầy, chào là khi thầy niệm 1 câu chú hỏi thăm lá ngải sẽ đong đưa qua lại về hướng thầy mặc dù lúc ấy trời không có gió... và cứ thế tiếp tục luyện cho đến khi thấy như có bóng trắng thoáng ẩn hiện là ngải đă có thần, trong thời gian luyện ngải ông thầy tuyệt đối không được ăn tỏi sống, v́ thực ra ngải là loại mang khí rất thanh, khác với tỏi nặng về trược được nhà Phật liệt vào ngũ vị tân (tỏi, hành, hẹ, nén, kiệu) mà các vị xuất gia đều phải kiêng cữ... và cứ tiếp tục luyện đều đặn như vậy, càng lâu th́ ngải càng mạnh, và mỗi tháng cúng ngải 2 lần vào ngày mùng 2 và 16 âm lịch như bên bùa cúng binh, tướng vậy. Đến 1 thời gian nào đó đă đủ th́ pháp sư chọn ngày thâu ngải, cũng nhang đèn trứng, nổ v.v... khấn vái đợi khi tàn nhang th́ đào gốc lấy củ đem vô nhà, việc đầu tiên sau khi rửa sạch là pháp sư phải cắn 1 củ nhai nuốt liền, v́ theo thầy truyền là có như vậy ngải nó mới mến và phục tùng thầy lâu dài...!

Sau khi để lên dĩa đặt ngay bàn thờ binh, tướng đối diện bàn tổ, (bàn binh thấp dưới rún, bàn tổ phải cao trên ngực) pháp sư bắt đầu đọc chú kêu ngải ở với ḿnh, các loài ngải thực là linh lắm, tính ư họ như các cô gái e dè, dịu dàng nhưng dấu kín những phong ba, khi luyện các thầy phải dổ ngọt vuốt ve, thủ thỉ... nói chuyện với ngải như những cô t́nh nhân, thế cho nên từ trước đến nay các ngải sư cao tay, vang tiếng đều là cô độc không vợ không con, v́ nếu các nàng ngải biết thầy lấy vợ là hè nhau vật hoặc phá vợ thầy đau bệnh nặng hay rề rề không hết khó làm ăn lắm, các loại ngải ở Việt Nam ta và Miên, Thái, Lào hay dùng đều cùng loại nhưng khác thổ âm địa phương đôi chút thôi, người ḿnh hay gọi : nàng thâm, nàng mun, nàng xoài, nàng gù, nàng trăng, nàng hồng v.v... đều là tiêu biểu cho phái đẹp.

Nói về pháp lực th́ ngải rất mạnh và nhạy, chắc ít nhiều trong chúng ta có nghe qua những mẫu chuyện ngày trước ở Việt Nam đại khái như: cô nọ xách giỏ đi chợ tự nhiên có 1 bà xa lạ đến nói vài câu cô bỗng đờ đẫn lột tháo dây chuyền, bông tay, chiếc lắc... cho bà xa lạ đó, chừng 10, 15 phút sau mới hoàn hồn th́ bả đă đi mất tiêu rồi ! Đó chính là công năng của ngải, bùa không thể làm con người mất cả hồn vía lập tức như vậy.

C̣n về mặt lư tính th́ ngải nó đơn giản như ta nuôi con chó, con mèo vậy thôi, cho nó ăn đều vỗ về vài câu mỗi ngày là sai nó làm ǵ nó làm đó, không hề phân biệt thiện, ác trước khi làm, do đó những phù thủy có tâm thuật bất chánh thường hay luyện ngải để trục lợi, c̣n luyện ngải khô là khi thầy ngải khám phá ra những bụi hay đám ngải hoang trong rừng mà củ đă già, tốt hoặc ngải thầy trồng sau vườn lấy giống mà chưa luyện trong chậu kịp th́ được lấy củ, rửa sạch và cũng để lên dĩa để trên bàn binh, tướng, nhưng thầy phải chiều chiều cúng vái niệm chú sên vô dĩa ngải đó như cách luyện ngải chậu vậy ! Thời gian có thể là 360 ngày, 100 ngày 72, hoặc 36 ngày hay ít nhứt là 21 ngày mới đủ linh nghiệm.


Chú hội ngải:


Án thầy rừng đại tướng thầy rừng phi tà án bộ, hởi chúng quỷ tà tinh, âm binh rừng ở đâu sao ta chưa thấy tới ? ớ... ma ru ma ru ven rừng 3 chu, thời thừa chi quy tu lục, phất tức phất xạ lu cha tha. năm tơ-rây hào đây huê kiểng ràng ràng thâm thâm ắ rặc. ớ... ma ru ma ru... (3 lần)


Nam mô tam vị thánh tổ, 36 mẹ tổ ngải, 12 nàng ngải, 12 mụ ngải, mẹ lục mẹ lèo, chú cậu các đẳng nhang vàng, thần ngải lộc ngải, ma ngải ma lai ngải, thiên linh ngải, thâm thanh, hồng hạnh, hùm hổ, nhâm sư chúa tướng, đuôi mọi rợ đợ gồng hổ cảm ứng chứng minh cho......... tên họ tuổi........ cầu việc ǵ nói ra............ (b́nh an giải nạn, kiện tụng đắc thắng, thương măi đại lợi, giao tế viên măn v.v...) (3 lần)


Ngải khi đă luyện khô rồi được sử dụng các cách như sau:


Khi có thân chủ lại nhờ việc ǵ đó, ông thầy đầu tiên hỏi tên họ tuổi đương sự, sau đó nhang đèn triệu thỉnh rồi cắt vài lát ngải khô hoặc cho nguyên cả củ nhỏ gói trong giấy cấp cho thân chủ, cũng có khi tuỳ việc mà sên thêm 1 vài lát cho ngậm vào miệng khi đi ăn nói như lúc ra toà, đi đ̣i nợ hoặc mượn tiền. C̣n có thân chủ làm những nghề như buôn bán địa ốc, bán bar hay là chị em ta cần sự thương mến, chiếu cố của khách hàng th́ thầy bảo mang đến 1 chai dầu thơm, bỏ ngải vào đó, chú nguyện tên tuổi, mục đích cầu ǵ v.v... kêu ngải theo trợ giúp người này... đương sự sau đó khi dùng chỉ cần mỗi ngày khấn 36 mẹ tổ ngải và xức dầu đó xung quanh miệng, nói người ta nghe, xức 2 chân mày nh́n người ta mến và xoa vào 2 tay bắt tay, vổ vai, vuốt ve đụng chạm th́ người thương chuyện khó hoá dễ !


Thực ra khi ḿnh xài ngải cũng như bùa, là không có chuyện phải chuộc, phải thỉnh để xài hoài, nếu không sẽ bị điên khùng như nhiều người nghĩ, đó chỉ là ḷng vụ lợi của mấy ông thầy, muốn thân chủ trở lại hoài để cúng tiền, trả công cho ông mà thôi, nên nếu lâu người đó mà không đến th́ ông thầy làm phép trục (kêu đến) người đó không an trong dạ, xuôi khiến chuyện này chuyện kia phải đến thầy mới trở lại b́nh thường, xét ra là vị thầy như vậy vốn không đủ tư cách với thiên chức pháp sư của ông ta và cũng không thấu đáo về luật nhân quả vậy !

Nói đi th́ cũng nói lại, có nhiều thân chủ cũng bạt mạng, v́ mục đích mà bất chấp, gạt cả ông thầy xính vính như chơi, ví dụ có cô là dân giang hồ mưu việc đoạt chồng người mà khi đến thầy bảo là chồng ḿnh theo vợ bé, có người muốn mượn tiền người khác mà lại nói là người đó thiếu tiền ḿnh v.v... có nhiều người thắc mắc rằng: "à....tại sao làm thầy mà không biết để cho họ qua mặt v.v...", thực ra ông ta chỉ là thầy bùa chớ đâu phải thầy bói, có nhiều ông c̣n không biết thiên cang, địa chi, ngũ hành nạp âm là ǵ (mấy thầy ở quê), nếu có người luyện cao th́ có thiên linh mách bảo hoặc ngải mách, ma xó v.v... c̣n nhiều thầy chỉ là nghề tổ phụ truyền lại tam sao thất bổn biết bao nhiêu hành bấy nhiêu, mà đa số là có óc tự măn, xem ḿnh là cái rốn của vũ trụ, không học hỏi trao dồi thêm, hoặc là biết ḿnh kém về mặt đó nhưng v́ tự ái hảo cũng không chịu hạ ḿnh bổ khuyết..., nói vậy không có nghĩa là mấy thầy đó làm không linh ứng, khi mà thần chú hoặc ngải nghệ đúng tầng số sử dụng, đúng chiêu bài th́ nó sẽ phát huy công năng ghê gớm lắm !

Chú trục : (lấy tấm h́nh người đó đọc chú thổi vô dằn ông táo 3 bữa về hoặc đến)

Pháp sư thọ đáo lỗ ban chơn truyền triệu ngủ động âm binh, linh thần sở tại thâu tam hồn sanh nhơn (tên họ tuổi...) lai đáo hồi gia sát nhập lỗ ban cấp cấp như luật lịnh (3 lần)


Có nhiều ông thầy luyện ngải, trồng ngải kín cả sau vườn, xem như không c̣n tính theo chậu nữa mà tính theo bao nhiêu mét vuông, đằng đó là 3 mét tai tượng ngải, nơi này là 2 thước mẹ nàng thâm v.v..., mỗi khi chạng vạng tối, ở từ các vườn lân cận gần bên, nh́n vào vườn ngải nhang cắm đỏ rực theo h́nh bát giác bao xung quanh vườn càng tăng thêm màu sắc huyền bí, ma quái khiến cho những kẻ dù bạo gan cách mấy cũng cảm giác như lành lạnh, rờn rợn nơi tóc gáy.Khi ngải mà chúng đă trổ thành vườn dày đặc như vậy, th́ khi cúng cho ăn hột gà và nổ phải nhiều hơn nhiều lắm, khi các loại ngải lá đă cao tới và hơn rún th́ thẩy hột gà vô lẫn trong vườn ngải, hôm sau ra chỉ c̣n lại vỏ không (có thực 100%) có nhiều thầy nuôi ngải tà như: huyết nhân ngải, thiên linh ngải, khô lâu ngải v.v... c̣n cho ăn cả gà sống nguyên con, mỗi lần đọc kinh, túc thần chú cho ăn là cả vườn ngải xoay vần, chuyển động như gió mạnh đè trên những đám lúa, bờ cỏ ngoài bờ đê, dưới ruộng. quăng con gà vào gà kêu quác quác vài ngày sau cũng thấy lông và xương.

 

                                                                            Sương Măn Thiên


---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

<>                 
Huyền Thoại Mạn Đà La


<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->

<!--[if !vml]--><!--[endif]-->

 

 

                            Mạn Đà La một dược thảo có chất độc, từ xưa chỉ chuyên dùng như một vị thuốc tê. Măi cho đến khi huyền thoại bắt đầu có thêm tên mới là Túy Tiên Đào, công dụng thứ hai mới được đời biết đến. Nhưng mặc dầu tên Túy Tiên Đào được gọi, phần đông người dùng vẫn không biết tên này v́ sao mà có.

Huyền thoại xảy ra đúng từ năm nào không thể tra cứu, nhưng phỏng đoán vào khoảng sau nhà Tống.
Một hôm Hoàng Đế lâm triều, các quan văn vơ đều qú trước đền tung hô vạn tuế như thường lệ.
Đặc biệt hôm ấy có các Tân khoa vừa thi đỗ Trạng Nguyên.
Theo chế độ khoa cử ngày xưa, người đỗ Tiến sĩ cao nhất, gọi là Trạng Nguyên. Sau đời Nhà Tống, đổi thành ba Tiến Sĩ cao điểm nhất đều được chấm đậu Trạng Nguyên.

Hoàng đế trông thấy trong các vị tân khoa mặt mày thư sinh b́nh thường, có một vị mặc áo măo Trạng Nguyên khiêm nhường đứng lẫn vào hàng ngũ Cử nhân, Tiến sĩ đàng xa, trông rất khôi ngô tuấn tú nổi bật hẳn lên. Dáng dấp Trạng Nguyên cũng đặc biệt, thanh cảnh nho nhă, không giống người đàn ông thường. Nh́n Tân Trạng Nguyên như một con chim Phượng Hoàng đứng lẫn với bầy gà trống, nhà Vua vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, cố ư ban thưởng rất nhiều cho các Tân khoa.
Sau khi tất cả mọi người ra về, Vua truyền đ̣i Trạng Nguyên đến gần hỏi thăm gia cảnh, nhất là muốn biết chàng trai anh tuấn này đă có vợ hay chưa. Trạng Nguyên nghe hỏi có vẻ ngượng ngập, sợ hăi, trả lời rất mơ hồ.

Mặc dầu Trạng Nguyên tỏ ư rằng cha mẹ đă định “đôi bạn” cho ḿnh rồi, nhưng nhà Vua h́nh như không cần t́m hiểu, cứ phán truyền ư riêng của ḿnh:
- Tốt lắm, quan Trạng chưa có vợ, ta có Công Chúa con một đang kén chồng. Công Chúa rất nết na xinh đẹp, ta chọn Trạng Nguyên làm Pḥ Mă, Trạng nghĩ thế nào? Có ư kiến ǵ khác không?

Câu hỏi thật là thừa, c̣n ai dám phản kháng lệnh Vua. Ai có ư kiến ǵ khác cũng đành chịu. Lời của Vua là “Thánh Chỉ”, ư của vua là mệnh lệnh. Thế là quan Trạng Tân khoa đành phải tuân lệnh Vua làm Pḥ mă.
Lễ cưới Công Chúa cố nhiên rất huy hoàng với tất cả những lễ nghi phức tạp quan trọng của một vị Công Chúa.
Nhưng riêng Trạng Nguyên dù được làm Pḥ mă, sẽ kế nghiệp Vua, được ở một chức vị cao nhất sau Vua, cũng không có vẻ vui mừng chút nào. Pḥ mă buồn, nhưng không ai để ư đến. Tất cả mọi người, từ Vua, Hoàng hậu bá quan, quí tộc cho đến dân chúng, những ai nh́n thấy Pḥ mă cũng đều công nhận là Pḥ mă đẹp vô cùng, đẹp hơn bất cứ một tuyệt sắc giai nhân nào trong nước... Tất cả đều chỉ chú ư có thế và bàn tán măi không thôi.
Cung điện của Pḥ mă ở ngay cạnh cung Vua, và cũng rực rỡ huy hoàng không kém. Sau khi nhận lănh tất cả quà tặng, chúc tụng, Công Chúa và Pḥ mă được đưa về Cung để nhập động pḥng. Nhưng có lẽ v́ suốt ngày phải làm đủ các nghi lễ phiền phức mệt quá, nên vừa vào đến pḥng riêng là Pḥ mă lên giường ngủ say đến sáng.

Rồi không những đêm đầu, mà tất cả những đêm sau cũng không hề thay đổi.
Mỗi ngày, sáng Pḥ mă vào chầu Vua, chiều về đến pḥng riêng là để nguyên cả quần áo giày vớ lên giường ngủ say.
Mấy tuần lễ trôi qua đều như thế, Công Chúa cảm thấy tủi thân v́ tưởng Pḥ mă chê ḿnh, nhưng ngượng không tiện hỏi. Công Chúa chỉ c̣n cách khóc với Mẹ.
Vua và Hoàng hậu biết chuyện “đôi trẻ” chưa hề hành “Chu công chi lễ” cũng rất khó xử, nhưng không biết làm thế nào.
Vua nghĩ măi không có cách giải quyết bèn mời một vài vị quan thân cận vào cung để vấn kế. Các quan đến, một vị thay mặt tất cả hỏi vua:
- Tâu Hoàng Đế có lệnh truyền ǵ?
- Các quan có biết là Pḥ mă trong người có bệnh ǵ mà không được “mạnh khỏe” không ?
Các quan nh́n nhau ngẩn ngơ, lắc đầu. Vua biết là ai cũng không dám nói ǵ, sợ lỡ sai lời có khi mất đầu, nên Vua làm ra vẻ hiền ḥa hỏi lại:
- Trong các vị có ai biết làm cách ǵ làm cho Pḥ mă lúc đi ngủ chịu cởi bỏ quần áo ra không?

Câu hỏi có vẻ rơ ràng hơn, nhưng vấn đề thật nghiêm trọng và tế nhị, nên vẫn không ai dám mở miệng phát biểu ư kiến về sự hiểu biết của ḿnh.
Vua không biết làm thế nào, bèn chỉ định một vị lớn tuổi nhất, bắt buộc phải đề nghị một biện pháp để giải quyết t́nh h́nh bế tắc.
Vị quan già có vẻ sợ hăi, ấp úng hồi lâu mới dám trả lời:
- Tâu Hoàng Đế, thần biết một cách có thể làm cho Pḥ mă thoát y, nhưng thần không dám tâu.
Vua nghe có cách làm cho Pḥ mă thoát y mừng quá nên hứa là ông có ư kiến ǵ cứ nói, dù thành công hay không cũng không tội vạ ǵ hết. Được hứa hẹn vô tội, vị quan già mới dám đưa ra đề nghị:
- Xin Hoàng Đế ban một đại yến đăi Pḥ mă. Trong lúc ăn uống xin cho phép thần ngồi gần săn sóc Pḥ mă, thần sẽ có cách.

Vua nghe vui mừng như cất được một gánh nặng, vội truyền dọn tiệc ngay tối hôm ấy để mời vợ chồng Pḥ mă. C̣n vị quan già cũng lo về nhà sửa soạn phương thuốc đặc biệt gia truyền chỉ một ḿnh ông biết, để sẵn thuốc vào ly. Đến giờ dự tiệc, khi Pḥ mă đến và có lệnh Vua truyền thưởng rượu, ông bèn rót rượu vào ly đặc biệt có thuốc cho Pḥ mă uống.
Tiệc tan, Pḥ mă ra về, đầu nặng, mắt hoa v́ rượu say và dược chất Mạn Đà La cũng phát sinh tác dụng. Pḥ mă thấy trong người nóng nảy, bực bội không chịu được, bèn cởi tung cả quần áo lên giường ngủ thiếp mê man.
Công Chúa chỉ đợi có thế, thấy Pḥ mă ngủ say rồi bèn chạy đến gần giường, vừa nh́n thấy “chồng” nàng giật ḿnh kinh hoảng. Th́ ra, Pḥ mă là một mỹ nhân tuyệt đẹp.

Đêm khuya, cung điện vắng lặng. Công Chúa nh́n người “chồng” đang nằm ngủ trên giường cũng là đàn bà như ḿnh, cảm thấy bị lừa dối nên giận dữ vô cùng. Nhưng sau một hồi suy tư, nghĩ ḿnh bị số kiếp ác nghiệt trêu đùa như thế, nhất định là sẽ bị đem làm tṛ cười cho cả triều đ́nh. Công Chúa vừa buồn giận, vừa tủi nhục chỉ biết nằm khóc, oán hận thân phận hẩm hiu lạ đời.
Măi đến gần sáng, chất thuốc đă tan hết. Pḥ mă giật ḿnh tỉnh dậy, thấy chuyện bí mật gái giả trai của ḿnh bị phát giác, lại nh́n thấy Công Chúa có vẻ sát khí đằng đằng th́ hoảng hốt, không kịp mặc áo, vội qú xuống chân Công chúa xin tha tội.

Đàn bà giả làm đàn ông để làm Pḥ mă là chuyện chưa từng xảy ra, nếu Hoàng Đế biết được th́ tội “khi quân“ là dối Vua sẽ bị chém đầu để làm gương cho dân chúng là cầm chắc.
Công Chúa giận sôi đến nỗi không nói ra lời, măi hồi lâu mới hỏi được:
- Cô là ai? Một người đàn bà yếu đuối tại sao lại dám to gan giả trai lừa dối Hoàng Đế. Trưa hôm nay, đầu ngươi chắc chắn là sẽ rơi xuống đất
Pḥ mă nghe thế, hồn vía lên mây, run rẩy xin Công Chúa cho phép giăi bày tâm sự. Nh́n “Pḥ mă” đau khổ kêu xin thành thật, Công Chúa thấy tội nghiệp, bèn cho phép “chồng” được tŕnh bày lư do giả trai, thi đậu Trạng Nguyên và cưới vợ.

Sự thực, Pḥ mă nguyên là một gái quê, cô và chồng chăm chỉ học hành đă hơn 10 năm, quyết định năm nay chồng cô sẽ đi thi. Lúc sắp lên đường th́ chồng cô bỗng bị bệnh nặng, thầy lang bảo hơn một tháng mới lành. Đôi vợ chồng trẻ ấp ủ giấc mộng về kinh đô thi với những thí sinh giỏi nhất của cả nước để trổ tài. Bây giờ cơn bệnh bất ngờ làm vỡ mộng, vợ chồng chỉ c̣n khóc và trách số phận không may. Cô vợ trẻ vốn rất thông minh và hiền đức, nghĩ rằng nếu cứ cả ngày khóc lóc oán trời trách đất cũng không ích ǵ, mà c̣n làm chồng buồn khổ hơn, bệnh có thể nặng thêm. Trái lại, nếu cô giải quyết việc thi cử hộ chồng th́ hay biết bao! Quyết định xong, cô bèn cải trang thành đàn ông, lấy tên chồng nộp đơn xin thi Tiến sĩ, đầy ḷng tự tin.
Trong suốt thời gian qua, cô vẫn học chung với chồng, cùng bàn luận tất cả những thắc mắc trong vấn đề học vấn nên bao nhiêu văn chương thi phú, kinh nghĩa cổ kim, cô đều thông thạo, chẳng kém ǵ chồng.

Cuộc thi kết quả, tên chồng cô xếp hạng đậu Tiến sĩ đệ nhất, được lănh áo măo Trạng Nguyên và được vào chầu Vua. Cô định tâm sau khi vào Triều tạ ơn Vua xong, sẽ đem áo măo về nhà tặng chồng. Cô sẽ làm bà vợ ông Trạng cũng đủ thỏa măn và hạnh phúc tuyệt vời rồi.
Không ngờ sau khi lănh yến, Hoàng Đế yêu tài mạo nên gả Công Chúa. Lệnh Vua không dám căi, bây giờ dù sống cũng như chết, tội cô bị chém đầu cũng đáng, chỉ thương chồng đau, mẹ già ở quê nhà không ai săn sóc.
Cô nói xong gục đầu khóc nức nở rồi nói tiếp:
- Phận làm tôi, một là không được trái lệnh Vua, hai là sợ bị phát giác gái giả trai, mạo danh chồng đi thi, nên đành cắn răng mặc số phận an bài, và cũng v́ thế nên sau khi làm Pḥ mă, đêm nào cũng tỏ vẻ như mệt như say, cứ để nguyên cả áo quần vờ ngủ mê man.
Công Chúa nghe cô Trạng Nguyên kể xong t́nh cảnh éo le, thái độ hoàn toàn đổi hẳn. Công Chúa không những hết giận, mà c̣n đâm ra kính phục, ái mộ tài năng của người đàn bà xinh đẹp và đáng thương. Công Chúa nói:
- Bắt đầu từ đây, chúng ta là chị em. Thôi, chị đừng khóc nữa, mặc quần áo Trạng Nguyên vào, em sẽ giúp chị xin Phụ Vương tha tội.

Hoàng Đế nghe xong câu chuyện, thấy t́nh cảnh éo le thương tâm cũng vui ḷng theo lời xin của Công Chúa tha tội cho cô gái vừa hiền thục, vừa tài cao. Vua nhận cô làm con gái nuôi. Thế là tất cả thắc mắc, khổ sở, u uất bí mật đều được giải quyết một cách êm đẹp.

Mấy hôm sau, Nhà Vua hỏi vị quan đă có công giúp Vua phát giác bí mật:
- Khanh dùng thuốc ǵ quí giá mà có tác dụng thần diệu như thế?

Người thầy thuốc già không dám nói sự thật, v́ thuở ấy, người ta chỉ mới biết đến Mạn Đà la là một vị thuốc rất độc, không thể trong uống được, chỉ có thể ngoài thoa mà thôi, phần nhiều để xoa bóp các chứng phong thấp, cước khí làm khớp xương đau nhức.

Thế nhưng ông quan già này có bản lănh y dược cao thâm, nên biết được Man Đà La c̣n có thể dùng như một thứ ma túy. Ông sợ nói tên Mạn Đà La Vua không hiểu được sự linh diệu của thuốc mà nghi là ông muốn đầu độc pḥ mă, th́ ông sẽ bị tội chết. Ông ngần ngại một lúc rồi trả lời:
- Tâu Hoàng Đế, đấy là một thứ thuốc rất quí hiếm trên đời. Tên nó là Túy Tiên Đào, xưa nay rất ít người dám dùng v́ không biết dùng đúng phần lượng.

Vua tin rằng đó là một vị thuốc quư, lại có cái tên cũng sang trọng, đă được dùng làm cô Trạng Nguyên pḥ mă, con gái nuôi của Vua say chết mệt, thật là xứng người, xứng của. Vua rất vui ḷng, nên ban thưởng cho ông quan già nhiều lễ vật.

Từ đó về sau, tên Mạn Đà La trong sách thuốc được kèm thêm một tên mới: “Túy Tiên Đào”, và cũng từ đó người ta gọi những người đẹp say mèm là Túy Tiên Hoa. Tên nghe thật kêu và thật lăng mạn.

Nhưng ở đồng quê , từ thuở xa xưa, người ta đă biết dùng lá cây ấy, cuốn lại hút như hút thuốc để dằn cơn hen suyễn. Và tên nó xưa nay chỉ đuợc gọi rất nôm na là Cây Cà Dược.

DƯỢC THẢO MAN ĐÀ LA (Datura Metel L.)

Tên khác: Mạn Đà La – Túy Tiên Đào – Dương Kim Hoa – Cà Dược – Cà Độc Dược

Mạn Đà La khí ấm, vị cay, có nhiều độc. Cây thường mọc ở đồng hoang, góc vườn, bên vệ đường hay trước sau nhà.
Hoa, quả, cành, hái vào mùa hạ, rửa sạch, phơi khô để dành dùng làm thuốc.

Mạn Đà La có ảnh hưởng đến Phế kinh, trừ thấp khí, khu phong, có chất ma túy làm ảnh hưởng đến thần kinh, làm tê dại ngoài da, chữa ho hen, đàm suyễn, nôn mửa, giảm đau chỗ sưng nhức. Người bị bệnh suyễn đang lên cơn, dùng hoa khô, thái nhỏ cuộn như điếu thuốc mỗi ngày hút 2-3 lần. Cũng có thể dùng lá cuốn lại như thuốc, hút 1-2 gr. mỗi ngày.
Té ngă bầm dập, rắn cắn, dùng hoa tươi tán nhuyễn đắp vào chỗ bị thương hay dùng cành khô tán bột trị té ngă.
Mạn Đà La cũng được dùng nấu nước ngâm chân trị bệnh tê.
Người bị trúng độc Mạn Đà La phát chậm với triệu chứng miệng khô, da đỏ ửng, không đổ mồ hôi, nôn mửa, chóng mặt, cuồng dại.
Muốn cấp cứu, phải rửa ruột, uống nhiều nước, tiêm thuốc an thần.

Dù sao, Mạn Đà La vẫn được coi như một vị thuốc độc nên Trung Y dùng rất thận trọng và không bao giờ cho toa để tránh tai nạn có thể xảy ra.



Linh Bảo

 

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

                            Hạ mỡ máu và giảm béo bằng dược thảo

 

                       Thông thường chỉ số về mỡ trong máu của người trưởng thành như cholesterol toàn phần là từ 3,32 - 5,68mmol/lít và triglycerid từ 1,05 - 2,26mmol/lít là mức b́nh thường. Khi các chỉ số trên vượt qua ngưỡng này th́ được coi là bị rôi loạn mỡ máu, hay nói đúng hơn đó là biểu hiện của t́nh trạng rối loạn chuyển hóa mỡ gây nên hiện tượng xơ cứng động mạch.

Các nguyên nhân gây nên t́nh trạng mỡ máu cao


Đó là do dùng nguồn cung cấp các thực phẩm nhiều dầu mỡ. Ngoài ra c̣n do yếu tố tinh thần như lao động trí óc quá căng thẳng v.v... Yếu tố nội tiết như kích thích tố ở tuyến yên, kích thích tố màng tuyến trên thận, tuyến giáp trạng, hormone giới tính v.v... đều ảnh hưởng đến quá tŕnh chuyển hóa; Ví dụ khi chức năng tuyến giáp trạng bị giảm sút hoặc hormone tiết ra với lượng thấp hơn b́nh thường khiến lượng nội tiết không đồng đều về tỷ lệ cần thiết phải có th́ lượng mỡ trong máu cũng bị tăng cao v.v...


Các Đông dược có tác dụng làm hạ mỡ máu


Ngày nay có nhiều phương pháp khác nhau để loại trừ lượng mỡ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Ở đây chỉ xin giới thiệu những phương pháp làm giảm mỡ máu bằng các Đông dược dễ t́m, giá thành rẻ, ai cũng có thể thực hiện được.


Làm giảm mỡ máu - giảm béo:


Dược liệu: Lá sen khô 60g, Sơn tra xanh, ư dĩ xanh mỗi loại đều 10g, lạc lá 15g, vỏ quưt 5g, lá chè 60g.


Cách làm và sử dụng: Các vị trên tán thành bột pha với nước sôi lấy nước uống thay trà trong ngày.


Tác dụng: Bổ lách, tiêu thấp, giảm mỡ, giảm béo, dùng chữa các chứng béo, hay chóng mặt, nhức đầu, mạch căng hay gặp trong mỡ máu cao.


Làm hạ mỡ máu cao, tăng tính đàn hồi huyết quản:


Dược liệu: Trà ô long (Trung Quốc) 3g, hoa ḥe 18g, hà thủ ô 30g, vỏ bí đao (đông qua) 18g, ruột sơn trà 15g.


Cách chế biến: Các vị trên sắc lấy nước uống thay trà trong ngày.


Tác dụng: Làm hạ mỡ máu, tăng tính đàn hồi của huyết quản, do vậy pḥng ngừa được chứng mỡ máu cao và xơ hóa thành mạch.


Chữa chứng mỡ trong máu cao:


Dược liệu: Lá sen tươi 20g, xé vụn hăm 15 phút lấy nước uống thay trà. Nếu không có lá tươi, dùng lá khô 10g hăm lấy nước uống như trên.


Tác dụng: làm hạ cholesterol máu.


Chữa chứng mỡ máu cao:


Dược liệu: Vừng đen (mè) 60g, quả dâu 60g, đường trắng 10g, gạo tẻ 30g.


Cách bào chế: Giă nát vừng đen, quả dâu, gạo tẻ. Lấy nước đổ vào nồi đất, đun đến khi sôi th́ cho đường trắng vào, chờ tan hết mới đổ từ từ 3 vị giă nát nói trên vào (không đổ nhanh, để nguội ăn giúp tiêu bệnh, khỏe người.


Tác dụng: Bổ âm, thanh nhiệt, hạ mỡ trong máu.


Làm hạ huyết áp - giảm mỡ máu:


Dược liệu: Mộc nhĩ trắng 20g, sơn trà thái lát 40g, đường trắng 1 th́a.


Cách chế biến: Mộc nhĩ trắng ngâm nước, lọc bỏ tạp chất. Ngâm với 3 bát nước trong 1 ngày để mộc nhĩ nở ra như tươi là được. Cắt thành miếng vuông nhỏ, cho vào nồi đất đun nhỏ lửa chừng 1 giờ mới đổ sơn trà và đường trắng vào, hầm tiếp 30 phút nữa, khi mộc nhĩ nhừ th́ bắc ra để dùng.


Cách dùng: Ăn cả nước lẫn cái, ngày 1-2 lần, mỗi lần ăn một bát nhỏ (có thể ăn điểm tâm hoặc ăn trước lúc đi ngủ). Ăn hết trong 2 ngày với lượng trên. Sau đó nếu dùng tiếp th́ mỗi ngày chỉ cần ăn với lượng bằng nửa của 2 ngày đầu là được.


Tác dụng: Bổ dưỡng huyết mạch, làm hạ huyết áp, giảm mỡ máu, mát phổi. Có thể dùng làm món ăn tẩm bổ cho bệnh nhân đang điều trị tim mạch.


-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

<>
                               THIỆN ÁC VÀ THẦN THÔNG .

Thiện ác giai thiên lý - Đạo không có chánh tà - Đạo là một khoa học cao cấp ; Chánh Tà do Tâm con người xữ dụng nó , mà làm thành ra chính tà .

Do đó , xã hội ngày nay , chánh tà lẩn lộn , kẻ có thế lực đè đầu cưởi cổ người khác để trục lợi , mà luật pháp không trừng trị , thì tại sao người hiền đức không có khả năng để cứu họ , là một người đạo đức , chẳng lẻ cứ than như thế mải thì cuộc đời sẽ tươi đẹp ư ......
                 Những người ác chẳng những họ có khả năng tự bảo vệ cho bản thân gia đình của họ , mà họ lại còn dư thừa khả năng để làm hại người khác ; còn những người hiền đức , tối ngày cứ bô bô cho mình là chánh đạo , là chân chính. Khi gặp kẻ ác đến hảm hại , thì nhẩn nhục , nhút nhát mà lại còn cảm ơn kẻ ác đến cướp đi sinh mạng quí báu của mình , và bảo rằng nhờ có họ , nên đã giúp mình được trả nợ trần , được tiêu diêu nơi miền cực lạc và đạt đến niết bàn tịch tịnh...Điều nầy không đúng theo tinh thần Bi - Trí - Dủng . Người đời chỉ có Bi , vì họ có lòng thương người bị bùa ngải hại , họ lại có Dủng  vì họ dám đánh phèn la , la bài hải có thầy ngải hại người....việc nầy ai cũng thấy và biết rỏ ...

Bùa , Ngải , Thư , Phù , Ếm , Đối , Thần Thông , Huyền năng , Pháp Thuật....là những khoa học cao cấp ; Chính quyền của tất cả các nước trên thế giới đều có thiết lập những trung tâm nghiên cứu từ lâu , cũng như đã từng áp dụng trong những trận chiến quan trọng , hay những chiến lược bí mật.....
                Những ứng dụng về vũ khí hóa học , vi trùng , vũ khí sinh học....mà ta có thể dùng nhục nhản và ngũ quan để thấy được là vũ khí đã được tinh chế hóa và phát triển rút ra được từ Ngải , Thư , Ếm....
             Những vũ khí về hạ âm và trường sinh học là kết quả tinh hoa được rút ra từ bùa chú , huyền năng và ngoại cảm.....
             Những vấn đề nầy thuộc bí mật quốc phòng của các nước , không có phổ biến cho những người không có trách nhiệm và những người thường dân , nếu có thì chỉ là vô số tài liệu được tung ra để đánh lừa và đánh sai hướng tiến lên của những người đạo đức mà thôi , như khuyên người ta , nên hiền lành , đạo đức là đủ rồi , đừng ham quyền năng , thần thông , vì nó sẽ cản trở con đường tu tập , cứ lo tu hành đạo đức đi thì thần thông tự nhiên sẽ đến vậy , cũng như là ta trồng hạt cải sẽ thu hoạch được hạt gạo , trồng hạt đậu sẽ ra cây cam vậy...Thiệntai , thiện tai , nhân quả nhản tiền , đã có biết bao nhiêu người đã bị luật nhân quả chi phối là NGƯỜI LÀNH CHẾT YỂU , KẺ ÁC SỐNG DAI - CỎI ĐỜI Ô TRỌC , ĐỪNG TRANH DÀNH LÀM GÌ , HẢY BỎ LẠI TẤT CẢ VẬT CHẤT TIỀN TÀI LẠI CHO NGƯỜI ÁC ĐI , THÌ CON SẼ ĐƯỢC HƯỞNG ĐẦY ĐỦ NƠI THIÊN ĐÀNG CON Ạ...HẢY KỆ HỌ CON Ạ , HẢY ĐỂ CHO NGƯỜI ÁC HỌ ĂN CƯỚP CỦA CON ĐI , VÌ THÓI ĐỜI ĐÃ CÓ NÓI : ĂN ÍT NO DAI, ĂN NHIỀU NO DỮ...MÀ.
               Những điều nêu trên  , là do những người ác trêu chọc người hiền đức ; người ác rất thích họ được như thế. Trong thế giới Huyền học không đơn giản như chúng ta nghĩ .Huyền bí học tự nó là một khoa học của kinh nghiệm tích trữ mà nhân loại đã có được và lưu truyền từ xa xưa đến nay , nếu ai cố công tìm tòi học hỏi , thì sẽ thành công , vì là khoa học huyền bí cũng như khoa học tự nhiên hay một khoa học qui ước cũng như không qui ước nào khác , tự bản chất của nó là không có chính trị , đạo đức và thiện ác xen vào. Nếu ta tập đúng , hành đúng đủ hỏa hầu , định lực vững , tâm lực mạnh , theo đúng mục tiêu chỉ dẩn thì sự huyền diệu sẽ xảy ra , cũng như theo đúng công thức của thuật luyện kim , ngoại đơn hay nội đơn hay pháp thuật , bạn có được công thức gia truyền , nếu có đủ các hóa chất hay dược vật , thì ta củng có thể làm lay chuyển càn khôn và chuyển ngược tình thế đấy  ; và khoa học nầy vào tay người ác thì sẽ thành ác quỷ hại người , khoa học nầy vào tay người đạo đức thì sẽ thành Tiên Phật mà cứu khổ sanh linh.
DO ĐÓ ĐẠO ĐỨC LÀ ĐẠO ĐỨC , THẦN THÔNG LÀ THẦN THÔNG , KHÔNG CÓ VIỆC LO TU HÀNH ĐẠO ĐỨC MÀ SẼ CÓ THẦN THÔNG , CŨNG NHƯ KHÔNG THỂ NGỒI MÀI HOÀI MỘT MIẾNG NGÓI MÀ CÓ THỂ LÀM THÀNH GƯƠNG SOI MẶT ĐƯỢC ; NGƯỢC LẠI KHÔNG THỂ CHỈ LO TRAO GIỒI THẦN THÔNG THÌ SẼ PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC ĐƯỢC.
               Mà người đạo đức song song với việc trao giồi đạo đức thì cũng lo trao giồi những quyền năng còn ẩn tàng trong cơ thể của con người , có như vậy BI-TRÍ-DỦNG được phát triển thăng bằng , thì việc cứu nhân độ thế mới nằm trong khả năng đạo đức chân chính của mình được , chứ không nên ỷ lại Trời Phật mà tự mình trói mình lại , tự dâng sinh mạng của mình cho kẻ ác ; và kẻ ác thích lắm chứ....
Hảy tự nghĩ xem , khi kẻ ác dùng cường quyền để trục lợi người khác , mà chính quyền đương thời còn bênh vực và bảo vệ họ , thì lúc đó người đạo đức liền dùng thần thông của mình để cứu người thì hiền đức thì tốt biết chừng nào , khi cứu được người rồi mà quỷ thần còn chưa biết được , còn nói chi kẻ ác. Nếu làm được như thế nhiều lần , và mọi người đều làm được như vậy , chắc sẽ không có ai làm ác nữa vì mới suy nghĩ ác từ đầu óc , thì liền bị phát giác ra rồi , thì còn đâu mà hại người khác nữa .

DO ĐÓ , TẬP LUYỆN THẦN THÔNG KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ ĐẶC QUYỀN CỦA KẺ ÁC , MÀ NÓ CŨNG LÀ QUYỀN ƯU TIÊN ĐỂ CHO NGƯỜI ĐẠO ĐỨC NHANH CHÂN LÊN KẺO TRỂ , NẾU VÌ LÝ DO VÔ MINH HOẶC NGHE THEO TÀ TRÁI , THÌ CỨ NIỆM PHẬT MÀ CẦU VẢNG SINH CHO NHAU VẬY.
THIÊN ĐÀNG VÀ NIẾT BÀN CHỈ DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ BÁT NHÃ , KHÔN NGOAN NHƯ RỒNG VÀ HIỀN NHƯ BỒ CÂU HÒA BÌNH VẬY....

             Bùa ngải cũng như những pháp thuật khác, đã được lưu truyền từ xưa đến nay , nếu nó không có giá trị , thì nó đã bị chìm vào quên lảng từ lâu , không còn ai nhắc tới nó nữa. Trong xã hội cận đại , người ta chỉ sợ hải bùa ngải , từ những ông thầy bùa tả phái ; nhưng người ta không biết bùa ngải cũng giúp người rất nhiều của những ông thầy bùa thuộc các phái Lổ Ban Thần hay những Cao Tăng đắc đạo ; con người sợ hải khi nói tới nó , nhưng lại thích nghe hoặc tìm hiểu nó , cũng như người sợ ma mà lại thích nghe người ta kể chuyện ma. Trong thời kháng chiến chống Nhật tại Đông Dương , có những người kháng chiến dùng bùa ngải , phương thuật và khả năng ngoại cảm để chống giặc , làm cho bọn Nhật điêu đứng trước đối thủ vô hình nầy. Và Nhật cũng là một quốc gia nghiên cứu nhiều về Mật Tông , Đạo gia và Thần đạo một cách nghiêm túc , họ gạt ra ngoài những hào quang mờ ảo và thần bí của kinh điển trong các tôn giáo và Du già Fakir ; nên họ đã biết rằng những hiện tượng kỳ lạ và ma quỷ hiện ra quấy nhiểu toàn là do những người kháng chiến Nhật gây ra ; nên họ đã ra lệnh tàn sát toàn bộ cư dân tại vùng đó ; kể từ đó không còn những hiện tượng kỳ quái xảy ra để quấy nhiểu hay sát hại binh lính Nhật nữa. Trong thời kỳ chiến tranh Đông dương các binh lính Tây Phương tràn vào đền thờ để tàn phá các tượng thờ trong nhà thờ , chùa chiền , họ tưởng rằng làm như thế sẻ tiêu diệt và làm khiếp đảm dân Đông Dương , gây cho họ hoang mang , không còn nơi nương tựa của tinh thần nữa ; nhưng họ đâu có biết rằng nền huyền học đông phương quá cao , không thể nào tiêu diệt được , vì những đàn tràng hay hình tượng của chư Phật và Chúa đã in sâu vào tâm hồn của người dân đông phương , họ đi đến nơi nào , đến lúc họ cần cầu nguyện , thì họ chỉ cần ngồi xuống , lưng dựa vào thân cây , nhắm mắt là là khung cảnh của nhà thờ hay đàn tràng của bổn tôn hay hình Đức Phật đã HIỆN NGAY RA TRONG TÂM NHẢN CỦA HỌ , VÀ HỌ ĐƯỢC TỰ DO MÀ CẦU NGUYỆN , NÊN NỀN HUYỀN HỌC ĐÔNG PHƯƠNG NHỜ ĐÓ MÀ TỒN TẠI. Như việc tại một đền thờ một vị Thần tại miền nam VN , ngay trước khoảng trống trước tượng thờ , có bản thông báo , vì sự thiêng liêng của vị Thần nầy xin mọi người đừng bước vào vùng trên , mà chỉ nên đứng ngoài phạm vi cho phép mà chiêm nghiệm mà thôi ; có một dịp nọ , một người lính Tây đi vào , và bất kể lời can ngăn của mọi người , người lính Tây nầy mới vừa kéo bứt dây bước vào chổ cấm , mặt mày hung hăng mà cười cợt bất kính đối với vị Thần trên kia , chỉ trong hai phút , thất khiếu của người nầy liền bị ra máu , miệng ói ra nhiều máu và chết liền tại chổ. Như vậy có phải sự linh ứng của vị Thần kia hay không , việc nầy thì kính xin Thần Thánh trả lời. Còn chuyện ở trần thế thì thế nầy , vốn là người phác họa và tạo ra ngôi đền thờ nầy , đã có dự đoán sẳn để trừng phạt cho những người phá hoại hoặc đến gây sự , người nầy trước đó đã giấu sẳn một loại bột thuốc độc cực độc không mùi vị ở bên trên xà ngang trên đầu phía trước tượng Thần , và sợi dây được nối liền với sợi dây kéo ngang ngăn cấm mọi người không cho bước vào phạm vi ngăn cấm , cơ quan bài trí nầy chỉ có người phác học sơ đồ và người giữ đền biết được mà thôi. Do đó , khi người lính Tây nầy xông xáo bứt dây và bước vào trong phòng , đã vô tình đưa mình vào phạm vi của bột độc vừa được anh ta đã kéo tung vào không khí , nên chỉ trong vài phút anh ta liền bị ngộ độc nặng và chết ngay lập tức. Rồi từ đó , tiếng dử đồn xa , sự linh thiêng được xác định thêm lần nữa , nên từ đó uy danh của vị Thần nầy càng được mọi người cho là linh hiển , giúp ích được cho nền đạo đức của dân chúng và duy trì phong tục của xả hội. Trong thời kỳ cách mạng ở Trung Hoa , các thầy bói , thầy bùa ngải đều được chính quyền ân xá cho tự kiểm , phải viết ra tất cả bí mật nhà nghề của họ , nên trong thời gian hơn mười năm trở lại đây , những tài liều nầy được chính quyền Trung Hoa phổ biến rộng rải trong quần chúng qua sách vở bày bán tự do , hoặc cho phép các thầy bùa ngải có quyền mở lớp dạy nghề , dùng bùa ngải để trị bệnh , giúp người vv..v... đương nhiên là có người ác họ học xong đi hại người cũng có , chính quyền rất cởi mở , vì khả năng của đã họ có thể kiểm soát các việc nầy một cách dể dàng , vì các chuyên gia về các khoa huyền học nầy đều đã phục vụ trung thành cho lợi ích của dân tộc và nhà nước của họ cả rồi. Cũng như tại Hoa kỳ , là nơi bạn có thể , nếu có tiền , bạn cũng có thể tìm học quyền năng để trở thành giáo chủ chánh phái hay trở thành ác quỷ Satan cũng rất dể dàng , cũng tương tự như vậy , vì Hoa Kỳ cũng đã từ lâu biết và rành về các khoa huyền học nầy rồi , nên họ cũng cho tự do , vì họ có thừa khả năng kiểm soát , nên ở các nước có nền kỷ thuật và huyền học cao , mổi năm đều có những hội chợ tâm linh như : Spychics fair - Body, Spirit, Mind Festival , Witch Festival ....Ngoài ra ở các nước nầy đều có vô số viện bảo tàng huyền bí học , viện bảo tàng phù thủy và những tiệm bán sách chuyên môn về huyền bí học , Phù Thủy , Bùa Ếm v..v..Trong đó có rất nhiều tài liệu quí giá được lọt ra từ trong những trường bí giáo từ những người đã học qua hoặc bỏ môn phái ra ngoài lập môn phái riêng theo chí hướng của họ cho ít gò bó và ít giáo điều hơn , và những những pháp chỉ dẩn rất dể hiểu và dể thực hành , chỉ cần bạn có một số kiến thức căn bản sau một thời gian tìm hiểu học hỏi , là bạn có thể lảnh hội một cách dể dàng ; không như các phương pháp lề mề , lạc hậu hiện nay được truyền dạy trong các tôn giáo hiển giáo , qui ước xả hội . Cũng như một số thầy bùa ngải hay thầy bói , khi họ đã có niềm tin về Chúa thì họ không hành nghề bùa ngải và thầy bói nữa , và họ cũng đã viết sách để kể ra những bí mật nhà nghề cho mọi người biết , thí dụ như những bí mật của giới bói toán ở thế giới người Hoa là GIANG TƯỚNG PHÁI CÙNG NHỮNG PHÁP THUẬT CỦA NÓ ở thời Dân Quốc và còn bí mật lưu truyền đến nay .
Ngày nay với nền khoa học , kỷ thuật cùng tin hoc tiến bộ , những pháp thuật lợi dụng các chất hóa học cùng pháp thuật thuộc ảo thuật , ảo giác đã bị đào thải trong vòng 100 năm qua hay những chất hoá học hay những chất thuốc nầy đã bị chính quyền cấm bán cho công chúng nhưng lại vô hiệu đối với các thầy chuyên môn , vì ho biết cách bào chế các chất nầy qua vật liệu thiên nhiên hay qua các công nghệ phẩm dùng thường ngày .Tuy nhiên , khoa học chỉ là một đứa trẻ đối với nền huyền học bao la chân chính của nhân loại . Dù sao đi nữa , cho dù khoa học có tiến bộ đến đâu đi nữa , thì con người cũng là một khâu chính trong việc quyết định quan trọng . Nước nào sớm thành công và phát triển mạnh khoa học nhân thể trước , thì nước đó sẽ trở thành cường quốc . Kỷ nguyên của trí xảo đã qua ; Kỷ nguyên nầy là Kỷ nguyên của Trực giác và Tâm linh , cầu mong con người được thoát gông cùm của vô minh để có thể hưởng thụ những lợi ích của cuộc sống của vật chất và tung mình thoát khỏi sự níu kéo của địa từ , để có thể sống an vui hài hòa trong hai cỏi Tinh Thần và Vật Chất , đúng theo sự cấu tạo, có ý nghĩa , khi Tạo Hóa đã nên con người .
TRI THỨC VÀ TUỆ GIÁC LÀ ÁNH SÁNG XUA TAN VÔ MINH VÀ SỢ HẢI .

CON NGƯỜI KHÔNG THỂ CHỐNG LẠI TẠO HOÁ

MÀ CHỈ CÓ THỂ HỢP TÁC VỚI TẠO HOÁ MÀ THÔI.

KẺ THÙ CỦA CON NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ CON NGƯỜI

MÀ KẺ THÙ CỦA CON NGƯỜI LÀ VÔ MINH - NGHÈO ĐÓI

- BỆNH TẬT - THIÊN TAI VÀ CHIẾN TRANH .

NÓ ĐÃ CUỐN TRÔI ĐI BAO NHIÊU TÂM HUYẾT VÀ TRÍ TUỆ CỦA TIỀN NHÂN ,
MÀ ĐÀN CON CỦA HỌ NGÀY QUA CÒN NGỤP LẶN ĐỂ TÌM VỀ NGUỒN SÁNG VÀ GIA TÀI ẤY .

VÀ HIỆN NAY ĐÀN CON ẤY ĐÃ TÌM ĐƯỢC NGUỒN SÁNG CÙNG GIA TÀI NẦY VÀ ĐANG BỒI ĐẮP ĐỂ NÓ THÊM PHONG PHÚ VÀ LUÔN RẠNG NGỜI MẢI MẢI .....

SUNG SƯỚNG VÀ HẠNH PHÚC THAY , TA ĐƯỢC SINH RA LÀM NGƯỜI VÀ TA LÀ VẠN VẬT CHI LINH ĐỂ SỐNG HÀI HÒA CÙNG VẠN HỮU .

THIÊN ĐÀNG VÀ NIẾT BÀN LÀ Ở TẠI NƠI TRẦN THẾ NẦY , VÌ CÁC CỎI NẰM CHỒNG LÊN NHAU THEO KHÔNG GIAN NHIỀU CHIỀU ĐO , CÓ ĐIỀU LÀ TA CHỊU MỞ TÂM NHẢN RA HAY KHÔNG VẬY . NẾU MUỐN , TA HẢY CÙNG NHAU SÁNH BƯỚC , ĐỒNG TIẾN LÊN CÁC BẠN .........

                                                              HUYỀN MÔN